CÁC HÌNH THỨC CỦA DI CHÚC

1. Khái quát về di chúc và hình thức của di chúc

Theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết. Đây là một trong những căn cứ quan trọng để xác định việc dịch chuyển tài sản của người chết cho những người được chỉ định hưởng di sản.

Về nguyên tắc, pháp luật dân sự tôn trọng quyền tự định đoạt của cá nhân đối với tài sản thuộc quyền sở hữu của mình. Người lập di chúc có quyền chỉ định người thừa kế, truất quyền hưởng di sản của người thừa kế, phân định phần di sản cho từng người thừa kế, dành một phần tài sản để di tặng, thờ cúng và thực hiện các quyền khác theo quy định của pháp luật.

Để ý chí của người lập di chúc được ghi nhận và có căn cứ xác định sau khi người đó chết, pháp luật quy định tương đối chặt chẽ về hình thức của di chúc. Theo Điều 627 Bộ luật Dân sự năm 2015, di chúc phải được lập thành văn bản; trong trường hợp không thể lập được di chúc bằng văn bản thì có thể lập di chúc miệng.

Như vậy, xét về hình thức, di chúc được chia thành hai nhóm cơ bản: di chúc bằng văn bản và di chúc miệng. Trong đó, di chúc bằng văn bản tiếp tục được chia thành nhiều hình thức khác nhau tùy thuộc vào việc có người làm chứng, có công chứng hoặc có chứng thực.

2. Di chúc bằng văn bản

Điều 628 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định di chúc bằng văn bản bao gồm:

  1. Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng;

  2. Di chúc bằng văn bản có người làm chứng;

  3. Di chúc bằng văn bản có công chứng;

  4. Di chúc bằng văn bản có chứng thực.

Việc pháp luật quy định nhiều hình thức di chúc bằng văn bản nhằm tạo điều kiện để cá nhân có thể lựa chọn phương thức phù hợp với hoàn cảnh của mình, đồng thời tạo ra căn cứ chứng minh ý chí của người lập di chúc khi phát sinh tranh chấp về thừa kế.

2.1. Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng

Theo Điều 633 Bộ luật Dân sự năm 2015, người lập di chúc phải tự viết và ký vào bản di chúc. Việc lập di chúc bằng văn bản không có người làm chứng phải tuân thủ các quy định về nội dung của di chúc tại Điều 631 Bộ luật Dân sự.

Đây là hình thức tương đối đơn giản. Người lập di chúc trực tiếp thể hiện ý chí của mình bằng việc tự viết nội dung di chúc và ký tên vào bản di chúc mà không cần sự tham gia của người làm chứng, công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực.

Tuy nhiên, việc không có người làm chứng cũng đặt ra yêu cầu cao hơn về khả năng chứng minh ý chí của người lập di chúc. Khi xảy ra tranh chấp, những người có quyền lợi liên quan có thể đặt vấn đề về chữ viết, chữ ký, năng lực hành vi dân sự hoặc tình trạng minh mẫn, sáng suốt của người lập di chúc tại thời điểm lập di chúc.

Do đó, mặc dù pháp luật không bắt buộc loại di chúc này phải được công chứng hoặc chứng thực, người lập di chúc vẫn phải bảo đảm đầy đủ các điều kiện về chủ thể, nội dung và hình thức theo quy định của pháp luật.

2.2. Di chúc bằng văn bản có người làm chứng

Điều 634 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định trường hợp người lập di chúc không tự mình viết bản di chúc thì có thể tự mình đánh máy hoặc nhờ người khác viết hoặc đánh máy bản di chúc, nhưng phải có ít nhất hai người làm chứng.

Người lập di chúc phải ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc trước mặt những người làm chứng. Những người làm chứng có trách nhiệm xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập di chúc và ký vào bản di chúc.

Như vậy, điểm đặc trưng của hình thức này là sự tham gia của người làm chứng nhằm xác nhận việc người lập di chúc đã thể hiện ý chí của mình và ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc.

Tuy nhiên, không phải bất kỳ người nào cũng có thể trở thành người làm chứng. Theo Điều 632 Bộ luật Dân sự năm 2015, người làm chứng cho việc lập di chúc không được là người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc; người có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan đến nội dung di chúc; người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự và người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.

Quy định này nhằm hạn chế xung đột lợi ích và bảo đảm tính khách quan của người làm chứng.

2.3. Di chúc bằng văn bản có công chứng

Theo Điều 635 Bộ luật Dân sự năm 2015, người lập di chúc có thể yêu cầu công chứng bản di chúc.

Đối với hình thức này, nội dung di chúc được lập thành văn bản và được thực hiện thủ tục công chứng theo quy định của pháp luật về công chứng. Công chứng viên thực hiện việc kiểm tra, xác nhận tính hợp pháp của giao dịch, trong phạm vi nhiệm vụ và thẩm quyền theo pháp luật.

So với di chúc bằng văn bản không có người làm chứng hoặc có người làm chứng, di chúc được công chứng thường tạo ra cơ sở chứng minh chặt chẽ hơn về thời điểm lập di chúc, chủ thể lập di chúc và việc người lập di chúc đã thể hiện ý chí trước người có thẩm quyền công chứng.

Tuy nhiên, cần lưu ý rằng công chứng không phải là điều kiện bắt buộc đối với mọi di chúc bằng văn bản. Người lập di chúc có quyền lựa chọn hình thức phù hợp với hoàn cảnh của mình, trừ những trường hợp pháp luật có quy định đặc biệt.

2.4. Di chúc bằng văn bản có chứng thực

Tương tự như công chứng, Điều 635 Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng cho phép người lập di chúc yêu cầu chứng thực bản di chúc.

Chứng thực và công chứng là hai thủ tục pháp lý khác nhau, được thực hiện bởi các chủ thể có thẩm quyền khác nhau theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, xét dưới góc độ hình thức di chúc, cả hai đều nhằm tạo ra sự xác nhận có thẩm quyền đối với bản di chúc.

Do đó, di chúc bằng văn bản có chứng thực cũng là một hình thức di chúc hợp pháp nếu đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định của Bộ luật Dân sự và pháp luật về chứng thực.

Thủ tục tranh chấp thừa kế liên quan đến di chúc miệng

3. Di chúc miệng

Bên cạnh di chúc bằng văn bản, pháp luật còn thừa nhận một hình thức đặc biệt là di chúc miệng.

Theo Điều 629 Bộ luật Dân sự năm 2015, di chúc miệng chỉ được lập trong trường hợp tính mạng của một người bị cái chết đe dọa và người đó không thể lập di chúc bằng văn bản.

Như vậy, di chúc miệng không phải là hình thức mà cá nhân có thể tùy ý lựa chọn trong mọi trường hợp. Đây là hình thức đặc biệt được pháp luật đặt ra để giải quyết tình huống cấp thiết khi người có tài sản đang đứng trước nguy cơ tử vong và không có điều kiện lập di chúc bằng văn bản.

Điều kiện để lập di chúc miệng có thể được khái quát thành hai yếu tố:

Thứ nhất, tính mạng của người lập di chúc đang bị cái chết đe dọa.

Đây phải là tình trạng thực tế có nguy cơ dẫn đến cái chết, chẳng hạn người đang mắc bệnh nặng, bị tai nạn nghiêm trọng hoặc đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng.

Thứ hai, người đó không thể lập di chúc bằng văn bản.

Nếu người lập di chúc vẫn có điều kiện lập di chúc bằng văn bản thì về nguyên tắc không đặt ra nhu cầu sử dụng hình thức di chúc miệng.

Đối với di chúc miệng, pháp luật cũng đặt ra yêu cầu về việc ghi nhận và xác nhận ý chí của người lập di chúc. Đây là yếu tố quan trọng nhằm hạn chế tranh chấp về việc người chết có thực sự để lại ý chí định đoạt tài sản hay không.

Đặc biệt, khoản 2 Điều 629 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: sau 03 tháng, kể từ thời điểm di chúc miệng mà người lập di chúc còn sống, minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng mặc nhiên bị hủy bỏ.

Quy định này cho thấy di chúc miệng chỉ mang tính chất đặc biệt và tạm thời trong hoàn cảnh người lập di chúc đứng trước nguy cơ chết. Nếu sau ba tháng người đó vẫn còn sống, đồng thời minh mẫn, sáng suốt, thì pháp luật không tiếp tục duy trì giá trị của di chúc miệng mà coi di chúc này mặc nhiên bị hủy bỏ.

Di chúc thế nào thì được coi là hợp pháp?

4. Một số trường hợp di chúc bằng văn bản có giá trị như di chúc được công chứng hoặc chứng thực

Ngoài các hình thức thông thường, Điều 638 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định một số trường hợp di chúc bằng văn bản có giá trị như di chúc được công chứng hoặc chứng thực.

Đây là những trường hợp đặc biệt, trong đó người lập di chúc đang ở những hoàn cảnh nhất định khiến họ không thể trực tiếp yêu cầu công chứng hoặc chứng thực. Tuy nhiên, pháp luật cho phép di chúc được lập và có xác nhận của người có thẩm quyền tại nơi người lập di chúc đang sinh sống, làm việc hoặc đang ở.

Cụ thể, bao gồm:

Thứ nhất, di chúc của quân nhân tại ngũ

Di chúc của quân nhân tại ngũ có xác nhận của thủ trưởng đơn vị từ cấp đại đội trở lên được coi là có giá trị như di chúc được công chứng hoặc chứng thực nếu quân nhân không thể yêu cầu công chứng hoặc chứng thực.

Thứ hai, di chúc của người đang đi trên tàu biển, máy bay

Di chúc của người đang đi trên tàu biển, máy bay có xác nhận của người chỉ huy phương tiện được pháp luật công nhận giá trị tương đương di chúc được công chứng hoặc chứng thực.

Thứ ba, di chúc của người đang điều trị tại bệnh viện, cơ sở chữa bệnh, điều dưỡng

Người đang điều trị tại bệnh viện, cơ sở chữa bệnh, cơ sở điều dưỡng khác có thể lập di chúc với sự xác nhận của người phụ trách cơ sở đó. Trong trường hợp này, di chúc có giá trị như di chúc được công chứng hoặc chứng thực.

Thứ tư, di chúc của người đang thực hiện nhiệm vụ tại vùng rừng núi, hải đảo

Đối với người đang làm công việc khảo sát, thăm dò, nghiên cứu ở vùng rừng núi, hải đảo, di chúc có xác nhận của người phụ trách đơn vị cũng có giá trị như di chúc được công chứng hoặc chứng thực.

Thứ năm, di chúc của công dân Việt Nam ở nước ngoài

Di chúc của công dân Việt Nam đang ở nước ngoài có chứng nhận của cơ quan lãnh sự, đại diện ngoại giao Việt Nam ở nước đó được pháp luật công nhận giá trị như di chúc được công chứng hoặc chứng thực.

Thứ sáu, di chúc của người đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc chấp hành hình phạt tù

Người đang bị tạm giam, tạm giữ, đang chấp hành hình phạt tù hoặc đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính tại cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh có thể lập di chúc với sự xác nhận của người phụ trách cơ sở đó. Di chúc này cũng có giá trị như di chúc được công chứng hoặc chứng thực.

Những quy định trên có ý nghĩa bảo đảm quyền tự định đoạt tài sản của cá nhân ngay cả khi người đó đang ở trong những hoàn cảnh đặc biệt, không thuận lợi cho việc tiếp cận tổ chức hành nghề công chứng hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực.

Số lần xem: 3

CÔNG TY LUẬT TNHH MTV DINA (CÔNG TY LUẬT DINA)

Địa chỉ: Số 229 Nguyễn Đệ, phường An Hòa, quận Ninh Kiều, TP. Cần Thơ.

Hotline:  0916 999 058 - 0899 790 999

Email: luatdina@gmail.com

Mã số thuế: 1801666178

Website: www.luatdina.vn

  • Trực tuyến:
    2
  • Hôm nay:
    100
  • Tuần này:
    2228
  • Tất cả:
    398653
Thiết kế website Webso.vn